[giaoduc] Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần tháo gỡ điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực chất lượng cao
GDVN - Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này đòi hỏi các điểm nghẽn của giáo dục đại học về cơ chế, nguồn lực, đội ngũ giảng viên phải sớm được giải quyết.
Tại buổi làm việc giữa Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp là lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. [1]
Theo Đại biểu Quốc hội và đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Song, để giáo dục đại học phát huy vai trò này, cần giải quyết đồng thời điểm nghẽn từ cơ chế, chính sách đến đầu tư và tổ chức đào tạo.
Đào tạo nhân lực chất lượng cao còn nhiều "điểm nghẽn" cần sớm tháo gỡ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho biết, tăng trưởng hai con số không thể dựa vào lao động giá rẻ, huy động thêm vốn hay khai thác tài nguyên theo cách cũ, mà phải đến từ năng suất lao động; bởi năng suất lao động là hàm số của chất lượng con người.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định rõ, nhân lực chất lượng cao là "gốc" quyết định năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước. Vì vậy, chính sách giáo dục trước hết phải chuyển từ tư duy "đủ số lượng" sang "đúng cơ cấu, đạt chuẩn quốc tế".
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2024, cả nước có hơn 218.000 sinh viên tuyển mới thuộc các ngành STEM, chiếm khoảng 36% tổng số sinh viên tuyển sinh trên toàn quốc. Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo thị trường lao động 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đạt mức 53,7 triệu người, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới chỉ đạt 29,7%. Con số này cho thấy dư địa còn rất lớn, đặc biệt trong các ngành công nghệ chiến lược như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học.
Ngoài ra, cần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng, gắn nhà trường với doanh nghiệp và địa phương chặt chẽ hơn.
Cùng với đó, Nhà nước phải đầu tư đi trước một bước. Chẳng hạn, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; Quyết định số 995/QĐ-BGDĐT phê duyệt 90 chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng tại 23 cơ sở giáo dục đại học, tham gia Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm 2045 theo Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là những bước đi đúng hướng cần được nhân rộng và giám sát thực thi nghiêm túc.
Về khung pháp lý, đây là thời điểm thuận lợi khi Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 mở rộng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học; Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 lần đầu tiên xác lập vị thế pháp lý riêng cho đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, điều quan trọng phải tổ chức thực thi đồng bộ hai luật này, tránh tình trạng "luật một đường, cơ chế tài chính một nẻo".
Từ thực tiễn của tỉnh Lâm Đồng sau hợp nhất, với diện tích khoảng 24.233 km2, dân số gần 3,9 triệu người và nhiều tiềm năng phát triển trong các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, dược liệu, năng lượng tái tạo, du lịch, có thể thấy chính sách phát triển nhân lực quốc gia cần tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học tại địa bàn còn khó khăn tham gia đào tạo nhân lực chất lượng cao, thay vì tập trung nguồn lực vào một số trung tâm lớn. Qua đó, hạn chế nguy cơ gia tăng khoảng cách về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực giữa các vùng, miền.
![[giaoduc] Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần tháo gỡ điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực chất lượng cao](https://www.haui.edu.vn//media/115/t115926.jpg)
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: NVCC.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Ngọc cho rằng, có 5 điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trước hết là rào cản về nguồn lực đầu tư và cơ chế tài chính. Dù Luật Giáo dục đại học năm 2025 đã mở rộng quyền tự chủ, việc thực thi ở cấp trường vẫn vướng các quy định về đơn giá, định mức chi thường xuyên, biên chế…
Tiếp đó là việc thiếu đội ngũ giảng viên trình độ cao ở các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn. Sự thiếu hụt này thể hiện rõ ở các đại học vùng, trường địa phương nơi khó cạnh tranh để thu hút người giỏi so với trường đại học ở thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu không có chính sách riêng, đặc thù cho khu vực này, khoảng cách về chất lượng nhân lực giữa các vùng sẽ ngày càng lớn.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm của nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa đạt chuẩn quốc tế, nhất là các trường không thuộc nhóm được đầu tư trọng điểm. Trong khi đó, các ngành công nghệ cao đòi hỏi thiết bị hiện đại với chi phí đầu tư lớn và phải thường xuyên nâng cấp, cập nhật.
Ngoài ra, liên kết đại học - doanh nghiệp - địa phương còn thiếu cơ chế đặt hàng đào tạo và đặt hàng nghiên cứu thực chất. Việc này khiến chương trình đào tạo chậm cập nhật theo nhu cầu của thị trường lao động.
Cuối cùng là gánh nặng hành chính và các thủ tục mang tính hình thức làm giảm quỹ thời gian dành cho hoạt động chuyên môn của nhà giáo như thanh quyết toán đề tài khoa học...gây ảnh hưởng đến hiệu quả chuyên môn.
Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Thân Thanh Sơn - Trưởng ban, Ban Đào tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội nêu quan điểm, để kinh tế bứt phá mạnh mẽ, hạ tầng nhân lực kỹ thuật - công nghệ phải đi trước một bước.
Là một trong những cơ sở giáo dục đại học đào tạo công nghệ, Đại học Công nghiệp Hà Nội đóng vai trò như một "trung tâm" đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, công nghệ kỹ thuật, máy tính và công nghệ thông tin... trình độ cao, chất lượng cao.
Hiện nay, nhà trường duy trì quy mô đào tạo ổn định từ 33.000 - 35.000 học viên, sinh viên với 12 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ, 14 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ và 72 ngành/chương trình đào tạo trình độ đại học. Trên 90% chương trình đào tạo của nhà trường đã được kiểm định chất lượng, trong đó có 5 chương trình kỹ thuật đạt chuẩn ABET (Hoa Kỳ), góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sinh viên trên thị trường lao động quốc tế. Mỗi năm, nhà trường cung ứng hàng nghìn kỹ sư công nghệ có khả năng tham gia ngay vào chuỗi sản xuất.
Không chỉ vậy, Đại học Công nghiệp Hà Nội là 1 trong 18 cơ sở giáo dục đại học công lập được Chính phủ lựa chọn ưu tiên đầu tư phòng thí nghiệm bán dẫn cấp cơ sở. Đây là bước đi bản lề để đào tạo nhân lực ngành vi mạch bán dẫn và công nghệ cao, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) thúc đẩy tăng trưởng nhanh.
Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả những lợi thế này, các cơ sở giáo dục đại học nói chung cần được tháo gỡ rào cản về cơ chế và nguồn lực. Một trong những khó khăn, vướng mắc lớn nhất của hệ thống giáo dục đại học hiện nay là cơ chế tự chủ chưa đồng bộ. Các trường gặp nhiều rào cản về cơ chế tài chính, thủ tục thành lập doanh nghiệp trong trường đại học do vướng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Bên cạnh đó, áp lực tài chính trong đầu tư hạ tầng số cũng là thách thức lớn. Việc xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) đòi hỏi nguồn kinh phí lớn. Đồng thời, chi phí để thu hút và giữ chân giảng viên, chuyên gia trình độ cao cũng vượt quá khả năng tự chủ từ nguồn thu học phí của nhiều trường đại học công lập.
![[giaoduc] Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần tháo gỡ điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực chất lượng cao](https://www.haui.edu.vn//media/115/t115927.jpg)
Tiến sĩ Thân Thanh Sơn - Trưởng ban, Ban Đào tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội. Ảnh: NVCC.
Cần hoàn thiện cơ chế tự chủ, đổi mới chương trình đào tạo và gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp
Đổi mới chương trình đào tạo, phương thức giảng dạy và gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới.
Tiến sĩ Thân Thanh Sơn cho rằng, để người học không chỉ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, mà còn có khả năng sáng tạo, làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị mới, nhà trường đã phát triển ngành/chương trình đào tạo mới, đồng thời đổi mới phương thức giảng dạy.
Trước hết, nhà trường đổi mới chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực đầu ra và tư duy giải quyết các vấn đề phức tạp. Cùng với đó, tăng cường giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh nhằm khắc phục "điểm nghẽn" về năng lực ngoại ngữ. Tiếp đó, nhà trường mở ngành/chương trình đào tạo mới trên cơ sở bám sát chiến lược phát triển quốc gia, nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và sứ mệnh của trường.
Đối với phương thức giảng dạy, nhà trường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông qua hệ thống phân tích dữ liệu học tập nhằm cá nhân hóa lộ trình phát triển của từng người học. Các ngành/chương trình đào tạo mới đều được xây dựng theo hướng gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp từ khâu thiết kế chương trình, tổ chức giảng dạy, đánh giá đến tuyển dụng. Nhờ đó, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 12 tháng tốt nghiệp của trường đạt 93%.
Đặc biệt, thực hiện định hướng giáo dục đại học là động lực phát triển khoa học công nghệ, Tiến sĩ Thân Thanh Sơn cho biết, Đại học Công nghiệp Hà Nội không nghiên cứu để "cất ngăn kéo", mà gắn chặt với bài toán thị trường.
Theo đó, nhà trường tập trung vào các nhóm nghiên cứu mạnh mũi nhọn, định hướng đầu tư trọng điểm vào các lĩnh vực lõi như AI công nghiệp, sản xuất thông minh, năng lượng tái tạo và công nghệ vật liệu. Hiện năng lực nghiên cứu của trường đã đạt mức tăng trưởng với gần 1.500 bài báo/năm.
Nhà trường cũng đang thí điểm cơ chế chuyển giao thương mại hóa trực tiếp sản phẩm nghiên cứu của giảng viên, sinh viên ra thị trường với mô hình doanh nghiệp khởi nguồn. Mục tiêu cụ thể trong giai đoạn tới là thành lập mới thành công 5 doanh nghiệp khởi nghiệp (Spin-off).
Song song với đó, nhà trường đề ra mục tiêu nâng cao tỷ trọng doanh thu từ hoạt động khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ đạt trên 20% tổng nguồn thu vào năm 2030 (hướng tới tổng doanh thu mục tiêu đạt 1.800 tỷ đồng), giảm phụ thuộc vào học phí chính quy dài hạn.
![[giaoduc] Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần tháo gỡ điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực chất lượng cao](https://www.haui.edu.vn//media/115/t115928.jpg)
Sinh viên Trường Cơ khí - Ô tô, Đại học Công nghiệp Hà Nội trong một buổi học thực hành với robot. Ảnh: Khánh Hòa.
Để giáo dục đại học phát huy rõ vai trò trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, Trưởng ban, Ban Đào tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội kiến nghị, Quốc hội và Chính phủ cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý cho mô hình spin-off. Theo đó, cần ban hành cơ chế đặc thù cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập được tự chủ sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đẩy nhanh quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nhà nước cần đóng vai trò "đặt hàng" và cấp kinh phí mồi cho các trường đại học thông qua chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ cao, phòng thí nghiệm hiện đại.
Trong khi đó, theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Ngọc, đào tạo kỹ sư bán dẫn hay tiến sĩ công nghệ sinh học phải mất từ 4 - 9 năm, còn yêu cầu tăng trưởng là chuyện của từng năm, từng quý. Đây là điểm mâu thuẫn và không thể giải quyết bằng một chính sách duy nhất, mà cần đồng thời triển khai nhiều giải pháp.
Trước hết cần ưu tiên đào tạo lại và nâng cao kỹ năng (re-skilling, upskilling) cho lực lượng lao động hiện có. Đây là giải pháp nhanh nhất vì không phải chờ một chu kỳ đào tạo mới. Chủ trương "Bình dân học vụ số" và học tập suốt đời cần được cụ thể hóa bằng chương trình ngắn hạn, cấp chứng chỉ do doanh nghiệp công nghệ phối hợp với các trường đại học tổ chức.
Thứ hai, tập trung nguồn lực phát triển đào tạo sau đại học trong các lĩnh vực then chốt như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học, đồng thời mở rộng quy mô các chương trình đào tạo tài năng ở bậc đại học. Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu đào tạo khoảng 50.000 kỹ sư ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, chỉ tiêu đào tạo cần được phân bổ hợp lý cho các cơ sở giáo dục đại học có đủ năng lực, bao gồm cả các đại học vùng và trường đại học địa phương có nền tảng khoa học cơ bản, thay vì chỉ tập trung vào một số ít cơ sở đầu ngành.
Thứ ba, đẩy nhanh giải ngân và mở rộng phạm vi thụ hưởng của Quyết định số 1002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035, định hướng đến 2045. Chính sách học bổng theo Nghị định số 179 cần tiếp tục mở rộng danh mục các ngành đào tạo ở các bậc đào tạo được áp dụng, đồng thời cần đi kèm cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học Việt kiều và quốc tế về giảng dạy, nghiên cứu ngắn hạn. Đây là cách rút ngắn thời gian hiệu quả nhất trong lúc chờ đội ngũ trong nước trưởng thành.
Thứ tư, các địa phương cần phát huy lợi thế sẵn có thay vì đầu tư dàn trải hoặc bắt đầu từ đầu. Ví dụ, tỉnh Lâm Đồng có nền tảng nghiên cứu nhiều năm trong lĩnh vực hạt nhân, sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, dược liệu và đa dạng sinh học. Đây là điều kiện để Trường Đại học Đà Lạt trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ứng dụng về kỹ thuật hạt nhân, năng lượng nguyên tử, công nghệ sinh học và công nghệ nông nghiệp, phục vụ khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và cả nước. Qua đó, có thể rút ngắn thời gian phát triển nhờ kế thừa những nền tảng đã được hình thành.
![[giaoduc] Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần tháo gỡ điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực chất lượng cao](https://www.haui.edu.vn//media/115/t115929.jpg)
Trung tâm Giáo dục Đào tạo Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Đà Lạt. Ảnh website nhà trường.
Việc thiết lập cơ chế đặt hàng đào tạo và đặt hàng nghiên cứu giữa Nhà nước - doanh nghiệp - trường đại học cần gắn với chỉ tiêu tuyển sinh, ngân sách nghiên cứu cụ thể theo từng ngành công nghệ chiến lược để chương trình đào tạo bám sát nhu cầu thực tế.
Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ và thu hút giảng viên, chuyên gia riêng cho các ngành công nghệ chiến lược tại các đại học vùng, kèm theo cơ chế hợp tác quốc tế linh hoạt hơn để các trường có thể phát huy thế mạnh, đặc thù địa phương, trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ uy tín, chất lượng; thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho các địa phương, khu vực; đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://giaoduc.net.vn/bo-truong-bo-gddt-muon-tang-truong-hai-con-so-phai-dau-tu-cho-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-post260757.gd
Nguồn: Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam
Thứ Ba, 07:34 21/07/2026
Bản quyền thuộc về Đại học Công nghiệp Hà Nội - HaUI