Động lực thúc đẩy hệ sinh thái Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Đại học Công nghiệp Hà Nội
Xây dựng môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp và cởi mở là yếu tố then chốt để lan tỏa đam mê trong cộng đồng giảng viên và sinh viên. Nhân dịp chào mừng Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam 2/9, trước thềm năm học mới 2026-2027, bộ phận truyền thông Nhà trường đã có buổi trao đổi với PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng - Trưởng ban Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, thầy đã có nhiều chia sẻ đầy tâm huyết về các chính sách thúc đẩy Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Đại học Công nghiệp Hà Nội.

PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng - Trưởng ban Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội
Bộ phận truyền thông: Thưa thầy, Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) đang được xác định là một trong những động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của đại học. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động nghiên cứu vẫn còn phân tán, nguồn lực còn chưa được như kỳ vọng và chưa tạo được nhiều sản phẩm có khả năng ứng dụng. Thầy nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Đây là một vấn đề cần nhìn nhận một cách thực tế. Hiện không riêng gì Đại học Công nghiệp Hà Nội, nhiều cơ sở giáo dục đại học khác cũng đang có một lực lượng đông đảo các nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Tuy nhiên, khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm công nghệ và giá trị thực tiễn vẫn còn khá lớn.
Nguyên nhân ở đây không chỉ nằm ở nguồn kinh phí mà còn ở mô hình tổ chức hoạt động nghiên cứu. Nếu mỗi cá nhân, mỗi nhóm nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ riêng lẻ thì rất khó hình thành năng lực đủ mạnh để giải quyết chuỗi nhiệm vụ hay những bài toán lớn. Vì vậy, theo tôi, sẽ cần chuyển dịch từ cách tiếp cận “có nhiệm vụ để nghiên cứu” sang cách tiếp cận “có bài toán để giải quyết”, chuyển dịch từ nghiên cứu đơn lẻ sang nghiên cứu theo chương trình công nghệ có mục tiêu dài hạn.
Đối với Đại học Công nghiệp Hà Nội, hoạt động KHCN&ĐMST phải gắn với thế mạnh của từng đơn vị, với nhu cầu phát triển công nghiệp và với những vấn đề thực tiễn mà doanh nghiệp, địa phương đang đặt ra; và quan trọng hơn, cần có đội ngũ toàn tâm với công tác nghiên cứu, để chuyển dịch cách tiếp cận từ: “có công trình nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ hay danh hiệu thi đua” sang cách tiếp cận: “có công trình nghiên cứu để phục vụ cộng đồng”.
Bộ phận truyền thông: Một trong những điểm nghẽn thường được các nhà khoa học đề cập là cơ chế tài chính cho nghiên cứu còn chưa linh hoạt. Theo thầy, cần thay đổi cơ chế này như thế nào để thực sự tạo động lực cho các nhà khoa học?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Để hoạt động KHCN&ĐMST được thực sự sôi động, đóng góp hiệu quả cho nhu cầu xã hội thì cần có sự đồng bộ của nhiều cơ chế, trong đó có cơ chế tài chính.
Tôi cho rằng cần thay đổi căn bản cách nhìn nhận, đánh giá về tài chính cho hoạt động KHCN&ĐMST. Chúng ta không nên xem kinh phí cho hoạt động KHCN&ĐMST là các khoản chi, mà nên xem đó là khoản đầu tư để tạo ra tri thức, công nghệ và giá trị mới; bởi hoạt động nghiên cứu sẽ có tác động mạnh mẽ trở lại trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và uy tín của đại học. Hầu hết các đại học uy tín trên thế giới đều đã vận hành theo cách tiếp cận này từ rất lâu và luôn được xem như một giá trị cốt lõi của văn hóa đại học.
Cơ chế tài chính cần chuyển từ việc quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả và hiệu quả đầu ra. Thay vì kiểm soát từng hóa đơn, cần giao quyền tự chủ gói kinh phí dựa trên kết quả đầu ra cam kết của nhà khoa học. Tất nhiên, nghiên cứu khoa học có tính rủi ro và không phải nhiệm vụ nghiên cứu nào cũng có thể tạo ra sản phẩm thương mại. Vì vậy, cơ chế phải vừa kiểm soát được việc sử dụng nguồn lực, vừa tạo không gian đủ linh hoạt để nhà khoa học thử nghiệm và sáng tạo.
Tôi cho rằng sẽ cần phải phân tầng đầu tư. Với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu khám phá hay nghiên cứu giải pháp xã hội, chúng ta cần chấp nhận mức độ rủi ro nhất định để tạo ra tri thức mới, bởi vì: những nghiên cứu thất bại cũng nên được xem là thành công. Với nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, phải gắn chặt hơn với mục tiêu, nhu cầu thị trường và đối tác sử dụng. Quan trọng nhất là đánh giá nhà khoa học bằng giá trị của kết quả nghiên cứu, chứ không chỉ bằng số lượng công bố khoa học.
Bộ phận truyền thông: Vậy sắp tới, khi Quỹ Phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo của Nhà trường được vận hành, vấn đề này được giải quyết như thế nào, thưa thầy?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Tôi cho rằng Quỹ KHCN&ĐMST sẽ trở thành một công cụ tài chính quan trọng để tạo động lực mới cho hoạt động nghiên cứu của Nhà trường. Điểm khác biệt quan trọng của Quỹ là tạo ra một nguồn lực có tính chủ động, có khả năng hỗ trợ nhanh cho những ý tưởng mới, những ý tưởng nghiên cứu tiềm năng và những công nghệ đang ở giai đoạn cần được “tiếp sức” để đi tiếp.
Ví dụ, một nhà khoa học có kết quả nghiên cứu tốt nhưng cần kinh phí để chế tạo mẫu thử, đăng ký sở hữu trí tuệ, kiểm định, thử nghiệm hoặc hoàn thiện công nghệ. Nếu phải chờ một chu kỳ tài trợ mới thì có thể bỏ lỡ cơ hội. Quỹ có thể đóng vai trò “vốn mồi” cho những giai đoạn như vậy. Tuy nhiên, Quỹ không phải là một cơ chế cấp phát kinh phí theo cách truyền thống. Quỹ phải hoạt động theo nguyên tắc đầu tư có trọng tâm, cạnh tranh về chất lượng và gắn với kết quả đầu ra và coi trọng kết quả cuối cùng.
Đặc biệt, Quỹ sẽ thiết kế cơ chế tài chính rõ ràng để phân biệt giữa nguồn lực dành cho Quỹ và các khoản kinh phí Nhà trường sẽ bố trí cho hoạt động KHCN&ĐMST theo quy định, không để tình trạng một nguồn kinh phí bị tính đồng thời vào nhiều mục đích.
Bộ phận truyền thông: Một vấn đề khác là nguồn lực nghiên cứu đang bị phân tán. Theo thầy, việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh cần được thực hiện như thế nào?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Nếu muốn tạo ra những kết quả có tầm vóc lớn, chúng ta phải có những tập thể nghiên cứu đủ mạnh. Nhóm nghiên cứu mạnh không đơn thuần chỉ là tập hợp nhiều người cùng chuyên môn. Đó phải là một tổ chức nghiên cứu có định hướng rõ ràng, trưởng nhóm có năng lực tốt, có đội ngũ kế cận, có hạ tầng nghiên cứu, có nguồn lực tài chính và đặc biệt là có khả năng nhận tài trợ/đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu từ Nhà nước và doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, HaUI sẽ dần chuyển sang cơ chế nghiên cứu cạnh tranh dựa trên kết quả và hiệu quả đầu ra. Nhóm nào có năng lực, có sản phẩm tốt, có công bố chất lượng, bằng sáng chế, công nghệ chuyển giao hoặc doanh thu từ nghiên cứu thì sẽ được ưu tiên đầu tư. Đồng thời, có chính sách thu hút các chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trẻ tài năng và các nhà khoa học quốc tế cùng tham gia nhóm nghiên cứu.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành một số nhóm có khả năng giải quyết những bài toán công nghệ ở trình độ quốc gia và quốc tế, thay vì chỉ dừng lại ở quy mô nhiệm vụ cấp cơ sở. Tuy nhiên, việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và tiềm năng ở HaUI mới đang ở giai đoạn bắt đầu. Thời gian tới, trên cơ sở tổng kết hoạt động và từ nhu cầu thực tiễn, Đại học sẽ có những điều chỉnh cần thiết để các nhóm nghiên cứu hoạt động hiệu quả hơn nữa.

PGS.TS. Kiều Xuân Thực – Giám đốc Đại học Công nghiệp Hà Nội trao Quyết định thành lập Nhóm nghiên cứu mạnh "Các hệ thống thông minh và ứng dụng", do PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Sơn làm trưởng nhóm
Bộ phận truyền thông: Phòng thí nghiệm được xem là một trong những nền tảng để nâng cao năng lực nghiên cứu. Theo thầy, cần đầu tư phòng thí nghiệm theo hướng nào để tránh tình trạng đầu tư lớn nhưng khai thác chưa hiệu quả?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Đây là câu hỏi quan trọng. Theo tôi, phòng thí nghiệm không nên được nhìn nhận đơn thuần là một hạng mục đầu tư cơ sở vật chất, mà phải được xem là một hạ tầng nghiên cứu để tạo ra giá trị. Khi xây dựng phòng thí nghiệm, cần trả lời trước ba câu hỏi:
- Thứ nhất, phòng thí nghiệm sẽ giải quyết những bài toán nghiên cứu nào?
- Thứ hai, ai là lực lượng nghiên cứu, vận hành chủ chốt?
- Thứ ba, nguồn thu, nhiệm vụ nghiên cứu và sản phẩm đầu ra trong giai đoạn trung hạn và dài hạn là gì?
Do đó, đầu tư phải dựa trên năng lực cạnh tranh và hiệu quả khai thác tổng thể, không phải chỉ dựa trên nhu cầu mua sắm thiết bị phục vụ mục tiêu riêng lẻ hay đề xuất nào đó từ nhu cầu cá nhân. Tôi cho rằng, việc đầu tư phòng thí nghiệm cần theo hướng mở cho nhiều nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp và đối tác bên ngoài cùng khai thác. Phòng thí nghiệm phải vừa phục vụ nghiên cứu, vừa đào tạo nhân lực, vừa cung cấp dịch vụ khoa học - công nghệ, kiểm định, thử nghiệm và hỗ trợ phát triển sản phẩm. Khi đó, một phòng thí nghiệm có thể trở thành “hạ tầng dùng chung” của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thực hiện theo chuỗi bài toán thay vì chỉ phục vụ một vài nhiệm vụ riêng lẻ.
Bộ phận truyền thông: Doanh nghiệp nên tham gia vào hoạt động khoa học, công nghệ của Nhà trường ở mức độ nào để khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường được thu hẹp, thưa thầy?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Theo tôi, doanh nghiệp cần được đưa vào ngay từ đầu của quá trình nghiên cứu, chứ không phải chỉ xuất hiện ở khâu tiếp nhận sản phẩm. Mô hình cần hướng tới là “doanh nghiệp đặt bài toán – nhà khoa học giải bài toán – hai bên cùng đầu tư – cùng sở hữu và cùng khai thác kết quả” trên cơ sở thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp có thể cung cấp đề bài/nhu cầu, dữ liệu, thiết bị, kinh phí và môi trường thử nghiệm. Nhà trường cung cấp tri thức, đội ngũ chuyên gia, phòng thí nghiệm.
Sự hợp tác này sẽ giúp thay đổi căn bản cách lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu. Thay vì hỏi “chúng ta có thể nghiên cứu gì?”, chúng ta sẽ hỏi “doanh nghiệp và xã hội đang cần giải quyết vấn đề gì, và năng lực khoa học của Đại học có thể giải quyết vấn đề đó đến đâu?” Đây chính là cách hướng đến để hoạt động KHCN&ĐMST của Đại học đến gần hơn với nhu cầu xã hội.

Công trình "Nghiên cứu xử lý xỉ thải từ sản xuất phốt pho vàng (Lào Cai) làm vật liệu không nung, kết cấu nền ứng dụng trong xây dựng đường giao thông bằng chất kết dính vô cơ không sử dụng xi măng", do PGS.TS. Phạm Thị Mai Hương – Trưởng Khoa Công nghệ Hóa – Chủ nhiệm đề tài của nhóm giảng viên Khoa Công nghệ Hóa giành Giải Nhì Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam – VIFOTEC 2024.
Bộ phận truyền thông: Một kết quả nghiên cứu nếu chỉ dừng ở bài báo hoặc trong phòng thí nghiệm thì chưa thể tạo ra tác động lớn, vậy cần giải pháp gì để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu như thế nào, thưa thầy?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học là rất đáng trân trọng, nhưng một công nghệ được ứng dụng và tạo ra giá trị cho xã hội còn có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều. Chẳng hạn, việc tạo ra một giống lúa năng suất cao sẽ có hàng chục, hàng trăm triệu người được thụ hưởng, có ý nghĩa hơn nhiều một bài báo có thứ hạng tốt nhưng không tạo ra được tiềm năng ứng dụng hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, để tạo thành sản phẩm như vậy, cần hình thành cả một chuỗi hỗ trợ chứ không thể chỉ giao phó nhiệm vụ cho nhà khoa học chịu trách nhiệm.
Nhà trường xây dựng cơ chế hỗ trợ từ khâu đánh giá tiềm năng công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, hoàn thiện mẫu thử, kiểm định. Nhưng cần có sự hỗ trợ nguồn lực thực chất từ Nhà nước để tiêu chuẩn hóa, thử nghiệm thực tế, tìm kiếm doanh nghiệp, gọi vốn đến chuyển giao và thương mại hóa. Đặc biệt, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý giữa Nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp. Khi nhà khoa học nhìn thấy lợi ích chính đáng từ việc đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, họ sẽ có thêm động lực để theo đuổi nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ.
Tôi cho rằng cách tiếp cận theo chu trình: “chuyển kết quả nghiên cứu thành tài sản trí tuệ chuyển tài sản trí tuệ thành công nghệ chuyển công nghệ thành sản phẩm, doanh thu và giá trị xã hội” là một trong những thay đổi quan trọng nhất.
Bộ phận truyền thông: Nếu phải lựa chọn một số đột phá ưu tiên trong giai đoạn tới, thầy sẽ lựa chọn những giải pháp nào để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển của Đại học Công nghiệp Hà Nội?
PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng: Theo tôi, có thể cô đọng thành 5 giải pháp đột phá.
Một là, đột phá về cơ chế tài chính, chuyển từ cấp kinh phí theo đầu vào sang đầu tư theo kết quả, sản phẩm và tác động; đồng thời tạo cơ chế đủ linh hoạt để chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Nhân lực phụ trách tài chính cho hoạt động KHCN&ĐMST cũng cần có sự trải nghiệm về đào tạo, nghiên cứu để tạo lập sự thấu hiểu.
Hai là, đột phá về nguồn lực, xây dựng Quỹ KHCN&ĐMST như một công cụ tạo “vốn mồi”, hỗ trợ các ý tưởng tiềm năng, nhóm nghiên cứu và công nghệ có khả năng phát triển. Việc thu hút, tạo lập được đội ngũ nghiên cứu đủ năng lực, uy tín và tâm huyết cũng là 1 thành tố rất quan trọng trong đột phá về nguồn lực.
Ba là, đột phá về tổ chức nghiên cứu, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, tập trung nguồn lực cho một số lĩnh vực thực sự quan trọng để tạo ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh, có thương hiệu.
Bốn là, đột phá về hạ tầng, xây dựng các phòng thí nghiệm theo hướng dùng chung, mở và có khả năng phục vụ đồng thời nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp và các hoạt động dịch vụ khoa học - công nghệ.
Năm là, đột phá về hợp tác doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm đối tác quan trọng, thúc đẩy đặt hàng nghiên cứu, đồng phát triển công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Tất cả những giải pháp đó cuối cùng đều hướng đến một mục tiêu: chuyển từ “có hoạt động khoa học, công nghệ” sang “tạo ra năng lực khoa học, công nghệ”; từ “có kết quả nghiên cứu” sang “tạo ra giá trị từ kết quả nghiên cứu”.
Và tôi cho rằng, để thực hiện được mục tiêu đó, yếu tố quyết định vẫn là con người và văn hóa của tổ chức. Khi có đội ngũ tốt, có môi trường phục vụ các nhà khoa học chuyên nghiệp để thử nghiệm, sáng tạo và chia sẻ lợi ích, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra một hệ sinh thái KHCN&ĐMST năng động, trong đó Đại học là trung tâm tri thức, doanh nghiệp là đối tác đồng hành, nhà khoa học là chủ thể sáng tạo và xã hội là nơi tiếp nhận giá trị.
Bộ phận truyền thông: Xin cảm ơn thầy về cuộc trò chuyện này!
Thứ Hai, 15:35 31/08/2026
Bản quyền thuộc về Đại học Công nghiệp Hà Nội - HaUI